Theo
báo cáo của Bộ Công Thương, sau 10 năm ban hành Nghị định số 45/2012/NĐ-CP, có
thể thấy công tác chỉ đạo, quán triệt, triển khai các hoạt động khuyến công được
quan tâm thực hiện ở cả Trung ương và địa phương và nhanh chóng phát huy hiệu
quả. Trong giai đoạn 10 năm triển khai Nghị định số 45/2012/NĐ-CP, kinh tế - xã
hội nước ta diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm sau suy thoái
toàn cầu.
Ở
trong nước, sản xuất kinh doanh chịu áp lực từ những bất ổn về kinh tế và chính
trị của thị trường thế giới, cùng khó khăn chưa được giải quyết triệt để như áp
lực về khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa cao; sức ép nợ xấu còn nặng nề;
hàng hóa trong nước tiêu thụ chậm; năng lực quản lý và cạnh tranh của doanh
nghiệp thấp... Đặc biệt, đại dịch Covid-19 bùng phát từ cuối năm 2019 đã ảnh hưởng
toàn diện đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của Việt Nam, tới tâm lý người
dân và hoạt động sản xuất - kinh doanh. Tuy vậy, hoạt động khuyến công từ trung
ương đến địa phương đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận: Huy động được các
nguồn lực tham gia hoặc hỗ trợ các tổ chức, các nhân đầu tư sản xuất công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ khuyến công, góp phần vào việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tạo việc
làm, tăng thu nhập, thực hiện phân công lại lao động xã hội và góp phần xây dựng
nông thôn mới; khuyến khích, hỗ trợ sản xuất sạch hơn tại các cơ sở sản xuất
công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu,
nhiên liệu, vật liệu; giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm;
bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người; Hỗ trợ, tạo điều
kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản
xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp một cách bền vững, nâng cao năng lực cạnh
tranh, thực hiện có hiệu quả lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Sự lan tỏa của
những gam màu sáng từ chính sách khuyến công trong nỗ lực quyết tâm đổi mới,
sáng tạo cùng niềm tin, động lực từ cộng đồng doanh nghiệp, cơ sở CNNT là những
nét nổi bật trong bức tranh của ngành công thương cả nước.
Để
tiếp tục đẩy mạnh hoạt động khuyến công, mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định
số 235/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2012/NĐ-CP về
khuyến công; đây là bước điều chỉnh kịp thời, bảo đảm chính sách khuyến công bắt
nhịp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Cùng với đó, ngày 23 tháng 9
năm 2025 Bộ Công Thương đã ký ban hành Chương trình khuyến công quốc gia giai
đoạn 2026-2030 theo Quyết định số 2646/QĐ-BCT. Cùng với đó, ngày 4 tháng 12 năm 2025, Bộ trưởng Bộ Công
Thương Nguyễn Hồng Diên đã ký ban hành Chỉ thị số 20/CT-BCT về việc tăng cường
các hoạt động khuyến công, thúc đẩy công nghiệp nông thôn phát triển nhanh và bền
vững trong giai đoạn mới. Phải khẳng định rằng, trong bối cảnh hoạt động khuyến
công thời gian qua đã đạt nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn tồn tại những hạn
chế cần khắc phục để đáp ứng yêu cầu phát triển của thời kỳ mới.
Toàn cảnh Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XIV năm 2025
Phải khẳng
định, những điều chỉnh mới trong chính sách khuyến công đã mở ra nhiều triển vọng
trong hoạt động khuyến công quốc gia khi thực hiện chính quyền 2 cấp, như về mở
rộng đối tượng hỗ trợ, bổ sung một số nội dung về hoạt động khuyến công như phát
triển sản phẩm công nghiệp nông thôn thông qua hỗ trợ tổ chức, tham gia bình chọn sản phẩm công nghiệp nông
thôn tiêu biểu các cấp; hỗ trợ tổ chức hội
chợ, triển lãm sản phẩm công nghiệp nông thôn, sản phẩm thủ công mỹ nghệ; hỗ trợ tham gia các hội chợ, triển
lãm và các hoạt động xúc tiến thương
mại trong và ngoài nước. Hỗ trợ tổ chức thi thợ giỏi nghề thủ công mỹ nghệ, thi thiết kế mẫu sản phẩm thủ
công mỹ nghệ. Hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu;
hỗ trợ đầu tư phòng trưng bày giới thiệu sản phẩm. Hỗ trợ các hoạt động
xét tặng, trao tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực
nghề thủ công mỹ nghệ. Hỗ trợ tổ chức các hoạt động truyền nghề, tập nghề,
phổ biến kinh nghiệm phát triển nghề của các nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân
ưu tú trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ; hỗ trợ xúc tiến đầu tư phát triển cụm
công nghiệp; xử lý môi trường tại các cụm
công nghiệp, cơ sở công nghiệp nông thôn: Hỗ trợ tổ chức các hội nghị, hội thảo,
diễn đàn xúc tiến đầu tư phát triển cụm
công nghiệp; Hỗ trợ công nghệ, máy móc thiết bị xử lý nước thải, khí thải tại
các cụm công nghiệp, cơ sở công
nghiệp nông thôn.

Trao quà lưu niệm cho lãnh đạo Sở Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên
Tuy nhiên để
hoạt động khuyến công quốc gia tiếp tục là chính sách then chốt trong hỗ trợ,
thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển, thì còn nhiều "nút thắt" cần được
tháo gỡ.
Thứ nhất, nhiều nội dung cần phải được
cụ thể hóa bằng việc sửa đổi Thông tư số 28/2018/TT-BTC ngày
28/3/2018 của Bộ Tài chính về hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến
công. Hiện nay,
Thông tư này còn "thiếu vắng" một số nội dung quy định nội dung và
mức chi cho một số hoạt động hỗ trợ như xây dựng mô hình về sản xuất sạch hơn,
hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Đây là những nội dung quan
trọng trong tiến trình chuyển đổi các mô hình sản xuất công nghiệp hướng đến sản
xuất và tiêu dùng bền vững, áp dụng quy trình sản xuất tuần hoàn, công nghệ sạch
hướng đến sản xuất xanh; áp dụng chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin...Đây
là hạn chế rất lớn trong 10 năm thực hiện và cụ thể hóa các nội dung của Nghị định
45/NĐ-CP năm 2012.
Thứ hai, xây dựng mô hình trình diễn kỹ
thuật. Đây là nội dung rất quan trọng, song khi còn chính quyền cấp huyện, quy
định việc xây dựng mô hình, sản phẩm của mô hình là sản phẩm mới trên địa bàn cấp
huyện. Song khi bỏ chính quyền 2 cấp, theo thông tin hướng dẫn từ Cục Đổi mới
sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công tại Hội nghị tập huấn ngày 03/12/2025
về một số chính sách mới về khuyến công tại tỉnh Ninh Bình, thì hướng áp dụng
xây dựng mô hình thì sản phẩm của mô hình phải là sản phẩm mới trên địa bàn cấp
tỉnh. Đây là điều kiện rất khó, bởi hiện nay, đối với các sản phẩm công nghiệp
thuần túy thì trên địa bàn mỗi tỉnh có khi có đến hàng chục hoặc đến hàng trăm
cơ sở sản xuất cùng một chủng loại sản phẩm có tính năng, công dụng tương đồng
như nhau. Đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nơi mà sự
khác biệt giữa các sản phẩm chủ yếu thể hiện ở mẫu mã, cải tiến nhỏ về kỹ thuật
hoặc mức độ tự động hoá, chứ không hoàn toàn tạo ra một dòng sản phẩm hoàn toàn
mới. Điều này khiến cho việc xác định sản phẩm đủ điều kiện đưa vào xây dựng mô
hình trở nên lúng túng, dễ xảy ra cách hiểu khác nhau giữa các cấp, các ngành.
Thứ ba, nội dung hỗ trợ ngành "sản
xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ", trong phạm vi hoạt động khuyến công có
tính chất bao trùm các ngành, nên các nội dung hỗ trợ đặc biệt là nội dung hỗ
trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất đã được quy định mức hỗ trợ
tối đa không quá 300 triệu đồng/đề án và có tính dây chuyền công nghệ được nhân
thêm 1,5 lần. Song, đây là nội dung đã được quy định tại Nghị định tại Nghị
định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 về phát triển công nghiệp hỗ trợ, mức hỗ
trợ đã được quy định tại Thông tư số 29/2018/TT-BCT ngày 28/3/2018 hướng dẫn lập,
quản lý và sử dụng kinh phí chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ. Cụ thể,
mức hỗ trợ này được áp dụng hỗ trợ 50% cho nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao
công nghệ mà không hạn chế mức cụ thể. Thực tế tại một số tỉnh, nội dung này được
chính sách thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, hỗ trợ hàng tỷ
đồng/đề án.
Cùng
nội dung hỗ trợ xây dựng và đăng ký nhãn hiệu đối với các sản phẩm công nghiệp
nông thôn. Mức hỗ trợ khuyến công tối đa không quá 35 triệu đồng/nhãn hiệu, tuy
nhiên tại Thôn tư số 29/2018/TT-BCT ngày 28/3/2018 hướng dẫn lập, quản lý và sử
dụng kinh phí chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, mức hỗ trợ là 50 triệu
đồng/nhãn hiệu. Đặc biệt, tại Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 về
phát triển công nghiệp hỗ trợ, đối tượng tham gia là các doanh nghiệp sản xuất
tại Việt Nam, không giới hạn đối tượng doanh nghiệp theo Nghị định 80/NĐ-CP
ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ
doanh nghiệp nhỏ và vừa,
trong khi đối tượng thụ hưởng là doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Nghị định
235/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 45/NĐ-CP ngày 27/08/2025.
Thứ 4, trong những năm gần đây, kế hoạch
bố trí kinh phí khuyến công quốc gia thường bị chậm. Theo quy định, từ tháng 6
đến tháng 10 hàng năm các đơn vị sự nghiệp ngành công thương các tỉnh phải hoàn
thiện xây dựng các đề án triển khai thực thực hiện cho năm sau. Tuy nhiên, một
số năm gần đây, để có được kinh phí, thì khoảng tháng 6 của năm thực hiện thì
kinh phí thực hiện mới chính thức được cấp, như vậy thời gian thẩm định và phê
duyệt kế hoạch hỗ trợ kéo dài (gần 12 tháng).
Điều này gây khó khăn trong việc thúc đẩy doanh nghiệp thụ hưởng thực hiện đúng
kế hoạch đầu tư, triển khai đề án. Trong khi nguồn kinh phí khuyến công địa
phương hàng năm, thì khoảng thời gian này là giai đoạn thẩm định bố trí. Do đó,
một số địa phương đã điều chỉnh kế hoạch đề xuất từ việc đề nghị nguồn kinh phí
khuyến công quốc gia sang bố trí nguồn kinh phí khuyến công địa phương để thực
hiện. Điều này, dẫn đến một số đề án khuyến công quốc gia một số tỉnh bị đề nghị
dừng thực hiện.
Thứ năm, có nhiều nội dung theo Nghị
định 45/NĐ-CP ngày 27/08/2025 và Nghị định 235/NĐ-CP sửa đổi Nghị định
45/NĐ-CP
khó thực hiện hoặc không thể thực hiện, như về hỗ trợ liên doanh liên kết, hợp
tác kinh tế, phát triển các cụm công nghiệp. Tuy nhiên nội dung này, đến nay
chưa có khái niệm hoặc quy định các nội dung liên doanh, liên kết, hợp tác kinh
tế hay xây dựng cụm liên doanh, liên kết. Hoặc, nội dung hỗ trợ tư vấn, lãi suất
vốn vay cho các cơ sở công nghiệp nông thôn gây ô nhiễm môi trường di dời vào
các khu, cụm công nghiệp. Đây là nội dung có tính chất chuyên ngành của hệ thống
cơ quan quản lý và hoạt động tín dụng, có nhiều văn bản quy định chặt chẽ trong
hoạt động lãi suất cố định và lại suất thả nổi theo từng thời gian cụ thể trong
năm. Trong khi thời gian để từ phê duyệt đề án khá dài, thường mất từ 6-10
tháng, thì việc xác định lãi suất từ lúc xây dựng đề án đến lúc thực hiện đề án
đã có sự biến động và thay đổi đáng kể, không còn phù hợp từ lúc xây dựng đề án
đến lúc thực hiện.

Đại biểu chụp hình lưu niệm tại Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XIV năm 2025
Như vậy, có
thể thấy mặc dù Nghị định 235/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 45/NĐ-CP ngày
27/08/2025 đã bổ sung nhiều nội dung quan trọng hướng đến tăng cường đẩy mạnh hỗ
trợ khuyến công quốc gia đến các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhằm
mở rộng quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy ứng dụng máy móc thiết bị
tiên tiến, công nghệ hiện đại, song quá trình triển khai thực tế tiềm ẩn nhiều
khó khăn nhất định nếu không có sự nghiên cứu đầy đủ các văn bản hướng dẫn, thực
hiện hỗ trợ khuyến công. Đặc biệt là công tác nghiên cứu sửa đổi các văn bản
như:
Thông
tư số 46/2012/TT-BCT ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy
định chi tiết một số nội dung của Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 5
năm 2012 của Chính phủ về khuyến công; Thông tư số 20/2017/TT-BCT ngày 29 tháng
9 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Thông tư số 46/2012/TT BCT ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Công
Thương quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21
tháng 5 năm 2012 của Chính phủ về khuyến công; Thông tư số 36/2013/TT-BCT ngày
27 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về việc xây dựng kế
hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia; Thông tư số
17/2018/TT-BCT ngày 10 tháng 7 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2013/TT-BCT ngày 27 tháng 12 năm
2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức
thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia (KCQG); Thông tư số
26/2014/TT-BCT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về
việc tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiêp nông thôn tiêu biểu; Thông tư số
14/2018/TT-BCT ngày 28 tháng 6 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Công Thương sửa đổi, bổ
sung một số điều của Thông tư số 26/2014/TT BCT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ
trưởng Bộ Công Thương quy định về việc tổ chức bình chọn sản phẩm CNNT tiêu biểu.
Đặc biệt là Thông tư số 28/2018/TT-BTC
ngày 28 tháng 3 năm 2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng kinh
phí khuyến công./.
Ngô Xuân Vinh - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ và Tư vấn phát triển Công Thương Nghệ An